Làng gốm cổ Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng chạy dọc theo sông Hồng cách Hà Nội 17km, nơi có thể đón khách du lịch bằng 2 tuyến đường, đường thủy và đường bộ. Làng Bát Tràng hôm nay chỉ có 2 thôn, thôn Giang Cao và thôn Bát Tràng, với 1.625 hộ, chủ yếu sống bằng nghề gốm. Theo anh Đặng Đình Túc, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng thì làng quê anh hình thành đã 500 năm, Bát Tràng có 4 nghệ nhân rất nổi tiếng như cụ Lê Văn Vấn, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Cổn, Lê Văn Cam. Nay 3 cụ đã khuất, làng chỉ còn có nghệ nhân Lê Văn Cam, và con trai ông là Lê Văn Thụ đang ra sức đầu tư cho việc phục chế gốm cổ từ thế kỷ XIII – thế kỷ XVII… Làng còn có nhiều người tài giỏi có tay nghề cao như hoạ sỹ Lê Quang Chiến (cháu gọi nghệ nhân Lê Văn Cam bằng bác), Tô Thành Sơn, Lê Xuân Phổ, Nguyễn Văn Lợi.
Hiện nay làng gốm Bát Tràng sản xuất ước tính 70 triệu sản phẩm/năm, giá trị doanh thu khoảng 170 tỷ đồng/năm. Mỗi tháng có nhà đóng từ 5 – 7 container hàng đi các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, Singapore, Nhật, Pháp chủ yếu là hàng bát, cốc, lẵng đựng hoa quả, và chậu hoa, tranh dân gian trên đĩa gốm… hoạ sỹ Lê Quang Chiến cho biết: “Chúng tôi thường làm theo đơn đặt hàng của khách nước ngoài hoặc khách du lịch. Ví dụ như khách Hàn Quốc thì chỉ thích các loại chậu hoa có nhiều kiểu dáng đẹp. Khách Pháp thích bát gốm men rạn, khách Hồng Kông thích đĩa gốm trắng trơn, sản phẩm gốm cao cấp hiện nay có lọ gốm giá hơn 100USD/bình, có cốc kèm đĩa với 3USD/c, lọ gốm men rạn, men Xêrađông (màu xanh) có cái 10 – 20 USD/c”.
Tháng 3/99, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đã xuống làm việc với làng Bát Tràng nhằm triển khai đề án phục hồi một làng nghề gốm cổ Hà Nội từ quý 4/99 – 9/2000. Đề án gồm các hạng mục: Xúc tiến trung tâm giao dịch gốm; một nhà bảo tàng về gốm cổ, về các chủng loại; xây dựng một kho bãi, có nhà giới thiệu sản phẩm về gốm, bảo tồn và gìn giữ xóm 1, xóm 2, với những ngôi nhà cổ nhất ở làng Bát Tràng.
Hiện nay ở Bát Tràng đã có 43 lò ga, lò có thể đốt từ 2 -13 khối sản phẩm. Một lò ga có sức chứa 2 khối sản phẩm giá 120 triệu đồng, cái lớn có sức chứa 13 mét khối giá tới hơn 400 triệu đồng. Ưu điểm của lò ga rất khoa học, sạch sẽ, nhưng giá thành sản phẩm cao hơn và người sử dụng lò ga đều phải đi học bổ túc để nâng cao nghiệp vụ lò. Tuy nhiên theo anh Lê Quang Chiến thì du khách nước ngoài chỉ thích xem chiếc lò gốm thủ công bằng gạch. Nó có vẻ đẹp riêng. Những con đường vào làng Bát Tràng đã trải nhựa nhưng xe công nông, xe trọng tải lớn vẫn vào làng làm hỏng đường. Vào mùa mưa, khách du lịch ngại đi. Trước mắt, theo anh Đặng Đình Túc, xã sẽ có các cuộc họp bàn với dân để ngăn chặn không cho xe tải lớn vào các con đường làng. Tạo cho làng có nhiều con đường sạch đẹp, và giúp cho các hộ người dân, xây dựng gia đình văn hoá mới, các cửa hàng gốm được trưng bày sản phẩm mới sao cho cách tiếp thị đẹp hơn, bắt mắt hơn để thu hút du khách. Tương lai của năm 2000 làng Bát Tràng sẽ có một cầu cảng ven sông Hồng, nơi cầu cảng này sẽ giới thiệu sản phẩm du lịch về gốm cổ và gốm hiện đại. Dự tính xây dựng cầu cảng bên sông Hồng, làng Bát Tràng khoảng 700 triệu đồng.
Cầu cảng này đã có trong dự án của Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm và Sở Du lịch Hà Nội, trình lên Uỷ ban nhân dân thành phố, và bến sông quê ở làng Bát Tràng vẫn đón khách từ tàu thuỷ sông Hồng lên mua sắm, tương lai không xa sẽ là một cầu cảng nổi tiếng, sầm uất của làng gốm cổ ven đô.
Hoàng Việt Hằng – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Tiến tới đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VI vào cuối năm 2000

Hiện nay phong trào thi đua yêu nước đã và đang được các ngành, các cấp tiếp tục phát động và nhân rộng trong toàn quốc, nhiều gương người tốt, việc tốt đã được phát hiện và biểu dương. Công tác thi đua – khen thưởng từ nay đến năm 2000 có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với các mục tiêu về kinh tế, xã hội, giữ vững trật tự an ninh chính trị nhằm tiến tới chuẩn bị kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước là:
70 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2000)
25 năm ngày thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2000)
110 năm ngày sinh chủ tịch Hồ chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2000
55 ngày thành lập nước (2/9/1945 – 2/9/2000)
Tiến tới Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 năm 2000.
Để đẩy mạnh công tác thi đua – khen thưởng trung ương đã hướng dẫn việc tổ chức phát động thi đua 1999 – 2000 với những nội dung chính như sau:
Về nội dung thi đua khen thưởng:
Trong 2 năm tới, cả nước phải dấy lên phong trào: Thi đua phát huy nội lực, phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, thực hiện tiết kiệm triệt để; tăng thu ngân sách, dồn sức và tiền vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng cuộc sống mới lành mạnh, văn minh, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng an ninh, quốc phòng vững mạnh. Xây dựng cuộc sống mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 2,3,4,5,6 và các Nghị quyết tiếp theo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.
Trước hết các địa phương, các Bộ, ngành đoàn thể trung ương cần hướng vào trọng tâm tổ chức tốt phong trào thi đua thực hiện xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế văn hóa – xã hội hàng năm của đơn vị, địa phương – của ngành và của cả nước. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở các khu vực dân cư. Phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng chống ma túy có hiệu quả.
Các địa phương các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương căn cứ vào mục đích, yêu cầu nội dung trên và đặc điểm của mình để tổ chức phát động các phong trào thi đua sau:
Thi đua thực hiên xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội trong kế hoạch hàng năm của từng đơn vị, địa phương, từng ngành.
Thi đua giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suốt, chất lượng hiệu quả cao trong công nhân viên chức và lao động.
Thi đua cải tiến lề lối, tác phong làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở.
Thi đua thực hành tiết kiệm chống tham ô lãnh phí, chống than nhũng, buôn lậu.
Thi đua xây dựng cuộc sống mới ở các khu vực dân cư. Phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là chống tệ nạn ma túy có hiệu quả.
Thi đua xây dựng và bảo vệ cảnh quan đô thị, làng, bản văn minh xanh sạch đẹp.
Thi đua dạy tốt, học tốt và đẩy mạnh cuộc vận động xã hội hóa giáo dục.
Thi đua hưởng ứng phong trào “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa và hướng thiện”.
Thi đua quyết thắng trong quân đội, phong trào thi đua vì an ninh tổ quốc và thi đua thực hiện tốt 6 điều Bác Hồ dạy đối với công an nhân dân.
Về công tác tổ chức thực hiện:
Trong 2 năm 1999 – 2000 tổ chức 4 đợt thi đua sau.
Đợt 1 từ đầu năm 1999 đến ngày 2.9.1999
Đợt 2 từ ngày 2.9 đến ngày 3.2.2000
Đợt 3 từ ngày 3.2.2000 đến ngày 2.9.2000
Đợt 4 từ ngày 2.9.2000 đến 31.12.2000
Đây là đợt thi đua lập thành tích đặc biệt xuất sắc chào mừng Đại hội Thi đua toàn quốc và chào đón thế kỷ 21.
Lê Đình Tuyến-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu – “Vạn sự khởi đầu nan”

Trung tâm Dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu, thuộc Công ty Du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) được thành lập theo quyết định số 240/QĐ/) OSC ngày 17/6/1999.
Trải qua hơn một tháng hoạt động Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu đã tổ chức được nhiều tour du lịch đi núi Bà Đen, thăm nơi ở Trung ương Cục Miền Nam (Tây Ninh), Đà Lạt (Lâm Đồng),…
Mặt khác, Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam cũng đã đón được 35 khách du lịch quốc tế đến Vũng Tàu. Hiện nay, Trung tâm đang làm thủ tục cho du khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
Đặc biệt, Trung tâm dịch vụ OSC Việt Nam đã tổ chức thành công một Tour du lịch cho 25 du khách dự hội nghị câu lạc bộ doanh nghiệp Việt Nam ra thăm Côn Đảo, mặc dù phải phối hợp với Công ty Bay Dịch vụ miền Nam, thuê bao một chuyến trực thăng để đưa du khách đi và về trọn gói. Đến Côn Đảo nhiều du khách đã tận mắt chứng kiến những nhà tù man rợ, giam giữ những chiến sĩ Cộng sản, trong đó có di tích lịch sử Cầu Tàu 914 (có 914 tù nhân đã hy sinh tại đây), thăm trại giam Phú Sơn, Phú Hải, Chuồng Bò, Chuồng Cọp… viếng nghĩa trang Hàng Dương, viếng mộ anh hùng Liệt sĩ Võ Thị Sáu, Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh. Ngoài ra, du khách còn được tham quan nhà Chúa Đảo, thăm miếu bà Phi Yến và di tích lịch sử Cầu Ma Thiên Lãnh. Vì những tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đưa các chiến sĩ cộng sản ra Côn Đảo để giam giữ và tra tấn, kết thúc chuyến du lịch mỗi du khách được tặng một huy hiệu Côn Đảo.
Tuy còn nhiều khó khăn, song bước đầu trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu đã có bước “vạn sự khởi đầu” thuận lợi.
An Giang: Thành lập đoàn khảo sát, kiểm tra môi trường và các khu du lịch trên địa bàn tỉnh
Chương trình phát triển du lịch là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của An Giang, từ nay đến năm 2000. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn còn đang là mối đe dọa nghiêm trọng cho ngành du lịch địa phương hiện nay.
Để khắc phục tình trạng này, vừa qua UBND tỉnh An Giang đã chỉ đạo cho Sở KH-CN & MT lập kế hoạch phối hợp cùng các Sở VHTT, Sở TM & Du lịch, Sở Y tế cùng tiến hành thành lập đoàn kiểm tra, khảo sát điều kiện vệ sinh môi trường tại các điểm, khu du lịch trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt là các khu du lịch có lượng du khách lớn hàng năm như: Khu du lịch Núi Sam (Châu Đốc), Khu du lịch Lâm Viên (Núi Cẩm), Khu du lịch Tức Dụp (Huyện Tri Tôn)… Du kiến kế hoạch khảo sát sẽ bắt đầu tiến hành từ 16/8 đến 25/8/1999.
Nhiêu Huyền-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Hà Nội khẩn trương tôn tạo khu thái học

Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta được lập từ năm 1076, sau Văn Miếu 6 năm. Trải qua bao biến cố lịch sử,, Quốc Tử Giám luôn được bổ sung, phát triển hoặc thay đổi theo đặc điểm của từng giai đoạn. Vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) , Quốc Tử Giám được đặt tên mới là Nhà Thái học. Năm 1946, Khu Thái học bị phá huỷ và trở nên hoang phế đến ngày nay.
Đối với quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám thì Khu Thái học là một thành phần di tích quan trọng. Đây là nhân tố chính mang những giá trị lịch sử vô cùng to lớn về nền giáo dục của dân tộc. Bất cứ sự thiếu khuyết nào về hình ảnh, tư liệu cũng như chứng tích của Khu Thái học đều sẽ làm giảm đi chân giá trị lịch sử của tổng thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, và nơi đây chỉ đơn thuần là ngôi đền thờ Khổng Tử mà thôi… Vì vậy, việc tôn tạo, bảo tồn di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám không thể tách rời nhiệm vụ tái hiện thoả đáng Khu Thái học. Chính vì ý nghĩa lịch sử to lớn ấy, Khu Thái Học đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội chọn là một trong những công trình tôn tạo trọng điểm hướng tới kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây cũng là công trình được khởi công đầu tiên vào ngày 13/7/1999 sau khi có giấy phép xây dựng 4 ngày.
Với thực trạng hoang phế hiện nay, Khu Thái học không để lại một tấm ảnh hay những tư liệu chính xác làm cơ sở cho việc chọn phương án tôn tạo và thiết kế công trình. Đây là một khó khăn trở ngại rất lớn cho việc xác định phương án thực hiện.
Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham kiến của các nhà sử học, kiến trúc, bảo tồn… một phương án tôn tạo tối ưu đã được thống nhất trên nguyên tắc tôn trọng lịch sử và phù hợp với hiện trạng. Trước hết phải ăn nhập với các thành phần, các không gian kiến trúc còn tồn tại trong khu Thái học như. Thái Học Môn cùng 2 cổng phụ nối với khu Đại Thành, Văn Miếu; Đông Môn mở ra phố Văn Miếu, miếu thờ Mẫu và một số cây xanh cổ thụ; Đảm bảo sự hoà nhập về kiến trúc, phong cách bố cục… với toàn bộ khu vực hiện có; Đảm bảo sự bền vững lâu dài và mang dấu ấn của văn hoá, kiến trúc và kỹ thuật thời nay.
Căn cứ theo các tài liệu còn lưu giữ được, với ý nghĩa lịch sử của di tích, chức năng của công trình đã được xác định là để lưu giữ, trưng bày và giới thiệu các tư liệu về lịch sử, ý nghĩa, giá trị của Quốc Tử Giám, về các tấm bia tiến sỹ, chế độ học hành thi cử thời phong kiến cũng như tinh hoa của quá trình phát triển văn hoá giáo dục của nước ta, nhằm tôn vinh nền văn hoá, giáo dục dân tộc, phục vụ công tác khảo cứu khoa học lịch sử…Dành một phần không gian thích hợp cho việc lưu danh, thờ tự các danh nhân văn hoá dân tộc mà trước hết là Chu Văn An (hiện đang được thờ ở văn miếu). Đây cũng sẽ là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá khoa học, hội thảo khoa học, kỷ niệm danh nhân, phong học hàm, phát bằng học vị…cùng với các hoạt động văn hoá truyền thống đậm nét dân tộc, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch trong nước và quốc tế.
Sau 2 tháng thi công, những khó khăn bước đầu đã được khắc phục. Theo ông Nguyễn Đức Hoà, giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội cho biết: 2 tháng qua các đơn vị tham gia thi công đã đạt được tiến độ đề ra. Hơn 800 mét khối gỗ lim là loại vật liệu chính đã được chuyển từ miền trung ra và tập kết tại nơi thi công an toàn.
Được biết khó khăn nhất trong quá trình thi công hiện nay là phần kỹ thuật mộc. Theo phương án, hầu hết phần nổi của công trình đều bằng gỗ. Có những hệ thống cột dài tới 12 mét, đường kính 0,56 mét. Toàn bộ kết cấu được gia công lắp ghép theo mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên đòi hỏi độ chính xác cao. Sau khi nghiệm thu kiểm tra, sẽ được hoàn chỉnh và ngâm tẩm chống mối mọt, trước khi lắp dựng với yêu cầu đòi hỏi kỹ thuật cao. Công việc này đã được giao cho các tay thợ lành nghề, các nghệ nhân có nhiều năm kinh nghiệm phục chế, bảo tồn của Bộ Văn hoá – Thông tin và Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội. Do có chức năng chính là trưng bày, thể hiện giá trị lịch sử của di tích nên việc bố trí sắp xếp hiện vật, bố cục nội thất, không gian trưng bày cũng đang là nơi bài toán hóc búa. Vấn đề này có thể sẽ được giải quyết bằng một hội thảo chuyên đề nhằm lấy ý kiến của các nhà khoa học, tìm ra phương án phù hợp.
Các bước thi công tại công trình tôn tạo khu Thái học đang được tiến hành khẩn trương để có thể hoàn thành đúng tiến bộ vào tháng 9 năm 2000. Đây cũng là trọng điểm sẽ tổ chức những hoạt động văn hoá, lễ hội độc đáo của lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội vào tháng 10 năm 2000.
Hoàng Ly – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Văn Sơn – “Thủ đô” Tam Thất

Năm 1998, hội chợ Tam Thất lần đầu tiên trên thế giới được tổ chức tại thành phố Văn Sơn, châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Đây là vùng trồng tam thất đặc hữu, được mệnh danh là “thủ đô” tam thất.
Thật khó mà tưởng tượng, giữa vùng núi non trùng điệp của tỉnh Vân Nam, nơi đây có dãy Thập vạn đại sơn, lại hiện hữu một thành phố sầm uất và thơ mộng như Văn Sơn. Toàn thành phố được nằm giữa một thung lũng lòng chảo rộng chừng vài trăm héc ta. Phía rìa đông thành phố là một dải núi đất cao dần. Trên một đỉnh bằng phẳng, người ta vừa xây một ngọn tháp tên gọi tháp Văn Bút, cao 8 tầng tượng trưng cho 8 huyện của châu Văn Sơn. Theo đường ô tô trải nhựa vòng lên tháp, du khách có thể nhìn toàn cảnh thành phố Văn Sơn, nhìn suốt sang dãy núi Tây Hoa, có công viên Tây Hoa nổi tiếng. Ở đó, trên gần chót đỉnh núi, nơi có một vòm hang rộng, từ vài chục năm trước người ta đã xây dựng một ngôi chùa gọi là chùa Tây Hoa. Một công viên hẹp được xây dựng dưới chân núi, men theo dãy núi đá là một đường bậc thang nhiều đoạn dốc đứng ép hẳn vào vách núi. Lên lưng chừng núi, chia làm hai nhánh theo hai phía. Có đoạn phải làm cầu thang sắt, lan can sắt hàn giằng chéo nhau; có đoạn luồn qua một vòm hang hun hút. Du khách leo núi phải là những người có sức khỏe và lòng dũng cảm. Lần theo hàng mấy trăm bậc thang, khách sẽ lên các vọng lâu được xây nhô hẳn ra các mỏm đá. Đứng trên các vọng lâu, có cảm giác như treo giữa tầng không. Lên cao nữa, trên độ cao vài trăm mét sẽ tới cửa chùa. Từ đây nhìn xuống dưới là thành phố Văn Sơn với những đường phố sầm uất, những khu nhà cao tầng, những nhà máy, xí nghiệp và nơi trũng nhất là dòng sông Bàn Long như một khe nứt chảy quanh co trong thành phố. Đây chính là ngọn nguồn sông Lô, chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Thanh Thủy, Hà Giang, đổ vào sông Hồng ở ngã ba Việt Trì, rồi đi ra biển.
Với hai công trình văn hóa (Tháp Văn Bút và công viên Tây Hoa) nằm trên điểm cao ở hai chiều Đông – Tây thành phố, Văn Sơn luôn luôn được du khách chiêm ngưỡng từ trên cao, tựa như du khách đang nhìn ngắm thành phố từ trên máy bay trực thăng.
Một địa chỉ thứ ba, rất nổi tiếng, khiến bất cứ du khách nào tới Văn Sơn cũng phải ghé thăm, đó là chợ Tam Thất. Chợ nằm ở phía Nam thành phố nếu du khách đi từ khu trung tâm theo đại lộ Đông Phong, qua sông Bàn Long đi xuống. Đó là một trung tâm thương mại – văn hóa cổ kính, với cổng vòm chợ cao vút, hai bên cánh gà đắp nổi hai cây tam thất đầy tính tượng trưng và cách điệu. Vừa vào cổng chợ, du khách đã thấy hàng chục dãy sạp xây bê tông chạy dài suốt chợ. San sát các sạp tam thất đủ loại: Tam thất củ nâu bóng như sừng, tam thất rế thoạt trông tưởng sợi thuốc lá, cũng vàng hanh, nhỏ đều, rồi tam thất hoa, hay trà tam thất màu xanh bạc…cả cây tam thất, từ rễ, cây, hoa, củ hầu như đều có giá trị dược hiệu quý. Tất cả đều được phơi khô, tỏa hương thơm ngọt rất đặc biệt. Những chủ sạp tam thất thường là người cư trú tại thành phố. Nhưng chủ nhân đích thực của tam thất lại là những người Choang, người Dao váy áo đầy màu sắc từ tít trên những dãy núi xa kia. Lẫn với đặc sản tam thất là những dãy hàng rau, hàng hoa quả, nhiều nhất là mận. Những chàng trai dân tộc gùi những sọt to, nặng đầy mận đỏ, mận xanh to mọng quyến rũ.
Du khách Việt nam sang Văn Sơn theo đường cửa khẩu Thanh Thủy Hà Giang, qua biên giới chừng 60km sẽ đến thị trấn Manipho, qua Manipho chừng 20km nữa, trên độ cao 2000 mét so với mặt biển 4 mùa mát lạnh sẽ gặp những vạt nương màu xám nâu vuông vức được che kín bằng loại cây họ guột, đó chính là các vườn tam thất. Loại cây này chỉ phát triển và cho củ khi chúng được che kín, quanh năm không có tia nắng mặt trời. Người ta trồng tham thất xong, phải rào kín rồi làm giàn che, cao chừng hơn 1 mét. Trong điều kiện cớm nắng, cớm gió và không bị sương muối, giá rét ấy, cây tam thất sinh trưởng chừng 3 năm mới cho loại củ có giá trị. Loại cây thần dược này, giống như sâm Cao Ly, thường được người Trung Quốc coi như thuốc đại bổ, rất hợp với phụ nữ và người già.
Có lẽ vì sống giữa “thủ đô” tam thất mà những người phụ nữ ở châu Văn Sơn đã thừa hưởng được những “di sản” của Từ Hi Thái Hậu thuở xưa, lúc nào cũng hừng hực niềm đam mê và sức sống.
Tư Mã Quang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Có những tiếng kêu cứu của thiên nhiên

Triển lãm ảnh “tài nguyên thiên nhiên” của Rebecca Miller và Trần Việt Đức được tổ chức tại khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội từ ngày 10 đến 22 tháng 9 với sự tài trợ của Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội.
50 bức ảnh đề cập đến một vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm: Hãy cứu lấy môi trường sống. Trong khuôn khổ bốn vùng dự án WWF triển khai tại Việt Nam: Phong Nha, Vũ Quang, Côn Đảo, Cát Tiên, … Rebecca Miller và Trần Việt Đức đã thể hiện thành công tầm quan trọng của thiên nhiên đối với cuộc sống con người. Những cánh rừng gãy nát, những sườn đồi trơ trọi, những con suối khô cằn… đã lột tả một cách sống động bàn tay can thiệp thô bạo của con người. Thiên nhiên vốn hùng vĩ, bao la là thế bỗng trở nên thật nhỏ bé, mỏng manh rất cần đến sự bảo vệ, chăm sóc của con người.
Cùng một đề tài, cùng một chất liệu ảnh đen trắng, nhưng mỗi nghệ sĩ chọn cho mình cách thể hiện riêng. Trần Việt Đức coi trọng yếu tố con người. Trong mỗi bức ảnh của anh, đều thấy thấp thoáng một bóng hình nào đó. Từ người phụ nữ đứng đơn độc trong cánh rừng gỗ bị đốn tả tơi, từ chú bé đạp xe dưới trời mưa tầm tã đến ông trưởng bản cởi trần ngậm tẩu và anh kiểm lâm ngồi buồn trước cửa trạm, các bức ảnh đều chứa đựng một tâm sự, một lời nhắn nhủ với mỗi chúng ta, thiên nhiên và con người không thể sống tách rời nhau. Rebecca Miller lại đi sâu khai thác các mảng mầu tự nhiên, có lẽ vì chị đã sinh ra và lớn lên ở một làng quê có tiếng thanh bình của Ca-na-đa. Không chỉ cảnh một vùng hồ và núi bị tàn phá nặng nề, những ngọn thác có nguy cơ khô cạn, Rebecca Miller rất thích quan sát cận cảnh từng cành cây chiếc lá, chú bọ hung xinh xinh, con chuồn chuồn cánh đỏ… Với chị, thiên nhiên bé bỏng, đáng yêu như một đứa trẻ mà bất kỳ ai cũng muốn dang tay nâng đỡ.
Triển lãm ảnh “Tài nguyên thiên nhiên” không chỉ mang ý nghĩa nhân văn cao, nó còn thể hiện tài năng của các nghệ sĩ nhiếp ảnh. Những gốc độ, những khoảnh khắc, những vùng tối sáng được kết hợp hài hòa tạo nên cái hồn riêng cho từng tác phẩm. Vì thế, chúng đã làm khách đến xem cảm động về lòng say mê nghệ thuật của các nghệ sĩ.
Nguyễn Thanh Thủy – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Làng văn hóa đồng xanh – ấn tượng văn hóa Tây Nguyên thu nhỏ

Cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 10 km về phía đông, dọc theo quốc lộ 19, khi những dãy phố dài thưa dần, bạn sẽ chứng kiến khung cảnh đồng lúa An Phú bằng phẳng, bao la – điều kỳ lạ có thật trên vùng đất cao nguyên thường chỉ có đồi núi tiếp liền. Chếch về phía bên phải, xa xa trong tầm nhìn, giữa khoảng xanh tươi non của lúa đương thì con gái là những mái nhà rông, nhà dài mang đậm dấu ấn Tây Nguyên và màu xanh của dừa, cau thấp thoáng ẩn hiện. Đó là khu du lịch văn hóa có tên Đồng Xanh vốn được xây dựng từ một vùng ngập trũng, hoang hóa, um tùm cỏ cây.
Có dịp ghé qua nơi này, bạn sẽ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và khó mà hình dung nguyên trạng vùng đất này vài năm trước đó. Bàn tay, trí tuệ và tình cảm con người đã biến vùng đất hoang hóa, sình lầy thành khu công viên văn hóa xinh đẹp. “Nói thế chứ trên diện tích 3 ha này chúng tôi đã đầu tư vào đó hơn 1 tỷ đồng” – Giám đốc công ty điện ảnh Gia Lai – Đinh Vạn Dũng khi đưa chúng tôi tham quan một lượt công viên đã cho biết thế. Gia Lai là tỉnh Bắc Tây Nguyên nổi tiếng bởi đặc trưng văn hóa đại diện cho cả vùng; xây dựng khu văn hóa thu nhỏ ấy vừa để làm điểm giải trí cho khách tham quan vừa giới thiệu bản sắc văn hóa độc đáo đó. Và thế là Ban Giám đốc công ty đã đề xuất ý kiến và lập đề án xây dựng, đầu tư vào công trình bằng cách tận dụng địa hình lầy thụt, ngập nước quanh năm. Con đường lát đá phẳng phiu đưa chân ta đến với đôi cánh cổng hình đôi ngà voi thanh mảnh vút cao. Qua cánh cổng ấy một đỗi là chiếc cầu tre theo lối chùa cầu Quảng Nam dài gần 20 mét cong cong dẫn ta vào khu chính diện của công viên. Đứng tại đây, ta có thể quan sát toàn bộ khu văn hóa từ nhà lễ tân trung tâm hình chiếc nón úp khổng lồ hoàn toàn bằng nguyên liệu tranh tre nứa lá đến ngôi nhà rông, đàn t’rưng nước, mái nhà dài, chòi giữ lúa, chuồng chim thú bọc lưới đến hồ nước, khu cây cảnh, hoa tươi, nhà thủy tạ, phòng ăn, phòng hát karaoke, sân khấu ngoài trời, những chiếc cầu nho nhỏ xinh xinh ngang, dọc nhiều kiểu dáng nối liền với nhau….Màu xanh của cây, nước, sự tươi thắm, rực rỡ hoa; những lối nhỏ lát đá quanh co; một chiếc ghế đá thân quen bất chợt hiện ra trên lối đi; chiếc nấm e dè nép mình trong bụi cây,….thoạt nhìn cứ như chẳng có gì đáng chú ý nhưng càng nhìn càng thấy dụng ý tinh tế của người kiến trúc, xây dựng – làm sao để du khách thấy nơi đây thật sự là khung cảnh quen thuộc, gần gũi của họ. Thành phố Pleiku không xa – nơi cuộc sống đô thị tấp nập, ồn ào – do vậy, đây là không gian lý tưởng cho những kỳ nghỉ ngơi, thư giãn sau nhiều ngày làm lụng vất vả đối với nhiều người. Dịp xuân Kỹ Mão 99 vừa rồi, khu văn hóa Đồng Xanh đón tiếp đến 4 vạn lượt khách đến thăm, doanh thu trên 200 triệu đồng. Không cứ gì ngày lễ, ngày Tết, ngày thường cũng có rất nhiều người đến tham quan, thư giãn. Đồng Xanh trở thành địa chỉ văn hóa, du lịch, nghỉ ngơi quen thuộc và “uy tín” đến mức hễ có đoàn khách, vị khách nào đến, “chủ nhân Gia Lai” đều đưa đi giới thiệu.
Sắp tới, Đồng Xanh sẽ được mở rộng, bổ sung thêm một số hạng mục như khu công trình văn hóa của đồng bào dân tộc Kinh, cầu treo bằng mấy, các trò chơi dân gian, các lễ hội đồng bào Tây Nguyên, làng nghề thủ công mỹ nghệ, khu vui chơi giải trí thiếu nhi như Water Park, hồ bơi cùng một số động, thực vật Tây nguyên v.v…
Thất Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đừng ép khán giả cười một cách vô duyên

Gần đây, các chương trình hài bung ra hàng loạt, chiếm tình cảm của khán giả: Đời cười 1, 2: Kẻ khóc người cười 1, 2; Danh hài 99…. Người ta tìm đến với chương trình để cười giải trí sau những giờ phút căng thẳng, mệt mỏi bởi những công việc thường nhật. Song, không còn háo hức như buổi đầu, khán giả đã dè dặt, chọn lọc hơn bởi đã thấy có dấu hiệu của sự lặp lại, nhàm chán trong các chương trình. Bởi thế, cuộc gặp gỡ của những “cây hài” Nam – Bắc trong chương trình “Bắc – Nam cùng cười” là điểm nhấn, cái mác đảm bảo kéo khán giả đến rạp, mặc dù giá vé không rẻ chút nào; 80.000 – 100.000đ
Gặp lại những gương mặt quen thuộc của “làng cười” Hồng Vân, Minh Nhí, Lê Vũ Cầu (Thành phố Hồ Chí Minh), Xuân Hinh, Đức Hải, Minh Vượng, Thanh Ngoan (Hà Nội)…trong 4 tiết mục hài. Đức Hải lại vào vai “phái yếu” – một bà già 72 tuổi vẫn chưa có chồng trong “già kén kẹn hom”. Không kể những miếng hài thô tục kiểu như: “lui ra – làm lệch của người ta mất rồi”… không thể gây cười, kiểu dáng “giả gái” của anh đã đến mức nhàm chán. Người ta thấy, dường như Đức Hải chỉ có thể gây cười nếu hóa thân thành người khác, và nếu thế thì anh sẽ không “trụ” được lâu ở sân khấu hài. Minh Vượng và Quốc Khánh đến với khán giả bằng tiểu phẩm “Vợ chồng dzởm”, kể về một nhà văn trẻ được đi nước ngoài với điều kiện phải “kèm bà vợ dzởm 40 tuổi, làm tài vụ đi cùng”. Tiếng cười từ đây khi những mâu thuẫn phải đóng giả vợ chồng phát sinh mặc dù Quốc Khánh là gương mặt hài mới (dẫu anh từng đóng rất nhiều phim và chính kịch) song bên cạnh cái sôi nổi, dí dỏm của Minh Vượng; cái tưng tửng, “như không” của anh khiến họ thành đôi bạn diễn ăn ý tuyệt vời, đem tiếng cười đến cho khán giả. Song, thành công nhất có lẽ phải kể đến tiết mục của 3 nghệ sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh. Thật không khổ danh là những “cây cười” xuất sắc khi cả 3 rất đều tay, diễn xuất rất có duyên, kẻ tung, người hứng được khán giả đồng cảm chia sẻ để cùng có tiếng nói chung là phê phán thói say xỉn. Từ chiếu chèo, Xuân Hinh và Thanh Ngoan đến với hài, vẫn áp dụng lối nói giọng hát thái quá khiến cho tiểu phẩm “Karaoke” không cười được. Cứ như một cô gái xinh song vô duyên, có nhiều chi tiết gây cười nhưng thiếu chất trí tuệ nên tiết mục cứ nhàn nhạt, hơn nữa lại quá dài. Hai người thay nhau hát hết bài này đến bài khác cốt để “khoe giọng”, còn chẳng gửi gắm được ý tứ gì.
“Bắc – Nam cùng cười” có ý tốt khi quy tụ diễn viên của hai miền Nam – Bắc. Đây cũng là cơ hội để giao lưu, học hỏi nhau. Lâu nay, người ta vẫn cho rằng: cái hài trong nam thiên về ngoại hình pha trò nhạt nhẽo, còn người Bắc vẫn tự hào với cái hài đầy chất trí tuệ của mình. Song với những được thấy, e rằng giữa hai miền Nam – Bắc đang có sự giao hoán? Phải chăng đã đến lúc những cây hài Bắc cần phải nhìn nhận lại “tiếng cười” của mình?
Ngọc Huyền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Lễ hội giao thừa thế kỷ

Ngày 26-7-1999, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000. Toàn văn nghị quyết như sau:
Năm 2000 là năm có nhiều ngày kỷ niệm lịch sử quan trọng đó là:
70 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 – 3-2-2000)
110 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2000)
25 năm ngày thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (30-4-1975 – 30-4-2000).
55 ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 – 2-9-2000)
Giỗ tổ Hùng Vương.
Lễ hội giao thừa thế kỷ.
Và một số ngày lễ lớn của các đoàn thể, các ngành như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Lực lượng công ân Nhân dân Ngoại giao v.v…
Về quốc tế, có các ngày kỷ niệm quan trọng như 130 năm ngày sinh V.Lê-nin, 180 năm Ngày sinh F.Ăng-ghen…
Năm 2000 cũng là năm diễn ra Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VI, là năm cuối phấn đấu để hoàn thành những mục tiêu do Đại hội VIII và các nghị quyết của Ban chấp hành Trung Ương Đảng đã đề ra kế hoạch 5 năm (1996-2000), là năm chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng…
Đây là dịp thuận lợi để tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống cách mạng, tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường xã hội chủ nghĩa, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, biểu dương những thành tựu 15 năm, thực hiện công cuộc đổi mới, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1996-2000, tiếp tục xây dưng và chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.
Với ý nghĩa trọng đại đó,
Bộ chính trị quyết định
Tổ chức trọng thể các hoạt động kỷ niệm nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm 2000, nhằm đạt các mục đích, yêu cầu sau đây:
Tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm của cách mạng VIệt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo, đặc biệt là trong 15 năm tiếng hành sự nghiệp đổi mới.
Giáo dục sâu sắc lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, khẳng định lý tưởng mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cách mạng tiến công, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực tự cường dân tộc, trong giai đoạn mới, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị do Đại hội VIII của Đảng đề ra.
Đẩy mạnh các phong trào hành động các mạng nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, củng cố quốc phòng, an ninh, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn xã hội có hiệu quả, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện cải cách hành chính, đổi mới và kiện toàn một bước tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ đường lối chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, hiểu đúng tình hình Việt Nam hiện nay. Từ đó tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ và bạn bè, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Các hoạt động kỷ niệm phải được tổ chức chu đáo, thiết thực, mang tính quần chúng sâu rộng, tạo được khí thế cách mạng, niềm tin tưởng và phấn khởi trong nhân dân; tránh lãng phí, hình thức.
PV -Tuần Du lịch – 1999

Vụ buôn bán xe máy bất hợp pháp ở Ninh Thuận “Vẫn còn lọt người, lọt tội?”

Ngày 18/3/1999 TAND tỉnh Ninh Thuận đã xét xử sơ thẩm Phạm Văn Cọ (ở xã Ninh Sơn, huyện Hòa Thanh, tỉnh Tây Ninh) và Võ Công Thành (ở Đạo Long, thị xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận) về các tội “giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan Nhà nước”, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”.
Theo cáo trạng, Cọ và Thành đã bàn bạc với nhau mua xe Honda Dream II nguồn gốc Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra Phan Rang tiêu thụ. Trước khi bán Cọ và Thành mạo danh một số người điền vào hồ sơ giả đem đến Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận đăng ký. Bằng thủ đoạn này từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1997 Phạm Văn Cọ và Võ Công Thành đã mua của Linh 36 bộ hồ sơ giả, đã sự dụng đăng ký trót lọt và bán cho những người ở Ninh Thuận 32 chiếc. Còn 4 bộ hồ sơ giả khi đăng ký thì bị phát hiện. Quá trình điều tra vụ án cơ quan điều tra đã thu giữ được 31 xe, trong đó xác định 15 chiếc do trộm cắp, cướp mà có nên trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã tuyên phạt: Phạm Văn Cọ 18 năm 9 tháng tù; Võ Công Thành 15 năm tù.
Phiên tòa đã khép lại nhưng đến nay dư luận quan tâm vẫn cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Ninh Thuận giải quyết vụ án vẫn còn sót người, lọt tội. Những cán bộ lãnh đạo và nhân viên Phòng cảnh sát giao thông, Phòng kỹ thuật hình sự CA tỉnh Ninh Thuận liên quan đến việc làm đăng ký 32 bộ hồ sơ giả cho 32 xe được đăng ký thật chỉ bị đề nghị xử lý hành chính là lọt người, lọt tội phạm. Hành vi thiếu trách nhiệm của họ đã gây hậu quả nghiêm trọng không thể không cấu thành tội phạm hình sự cần phải được khởi tố, điều tra, trụy tố và xét xử trước pháp luật.
Điều quan trọng là cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân và bản án của TAND tỉnh Ninh Thuận đều kết luận Cọ, Thành chỉ phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với 15/31 chiếc xe đã tìm được chủ sở hữu, còn 16 chiếc không phải là tang vật vụ án do không tìm được chủ sở hữu nên phải chuyển sang Ủy ban nhân dân tỉnh để xử lý hành chính là không đúng và bỏ lọt hành vi phạm tội của Cọ, Thành biết là xe bất hợp pháp, nhưng vì hám lợi chúng vẫn tiêu thụ do vậy, hành vi tiêu thụ 16 chiếc xe này của Cọ, Thành không thể không cấu thành tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” phải được điều tra, truy tố và xét xử cùng với 16 chiếc xe nêu trên. Điều đáng quan tâm là do việc không truy cứu trách nhiệm hình sự Cọ, Thành hành vi tiêu thụ 16 chiếc xe nêu trên hiện nay số xe này vẫn không được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân tỉnh có quyết định xử lý vật chứng hoặc chuyển cho Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý như nhận định của cáo trạng và bản án dẫn đến việc những người mua phải 16 xe” đều đăng ký thật” liên tục làm đơn tập thể khiếu nại tới các cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương, nhiều lần tập trung đông người đến các cơ quan. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị giải quyết dứt điểm (trước đó cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định chuyển 16 xe Dream II này sang Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận để tịch thu sung công quỹ Nhà nước).
Theo chúng tôi được biết, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã báo cáo xin ý kiến Chính phủ cách giải quyết vụ án theo các nội dung:
Cho phép Ủy ban nhân dân tỉnh tạm giao 16 xe chưa rõ nguồn gốc cho 16 chủ xe quản lý, giấy tờ và hồ sơ xe giao Công an tỉnh giữ tiếp tục điều tra.
Cho tịch thu và bán lại 16 xe cho những người đang là chủ sở hữu với giá chiếu cố vì lỗi xảy ra không do bản thân họ gây nên.
Ngày 19/7/1999, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã gửi công văn 1407/KSXXHS cho Văn phòng Chính phủ bày tỏ ý kiến về việc giải quyết xe Honda Dream vụ án Phạm Văn Cọ. Chúng tôi xin trích nội dung công văn này:
“Trong quá trình tố tụng điều tra vụ án cơ quan điều tra đã xác định được 15/31 chiếc xe do trộm cắp, cướp mà có do vậy cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng. Còn 16 chiếc do không tìm được chủ sở hữu nên các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Ninh Thuận đều cho rằng không phải là tang vật của vụ án và chuyển 16 chiếc xe này cho UBND tỉnh xử lý là không đúng, vì 16 chiếc xe này Cọ và Thành biết là xe bất hợp pháp nhưng vì hám lợi vẫn mua để tiêu thụ. Vì vậy 16 chiếc xe Honda Dream nêu trên là tang vật của vụ án phải được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với những người dân đã mua 16 chiếc xe Honda dream của Cọ, Thành phải được áp dụng theo Điều 142 và 146 Bộ luật dân sự để giải quyết. Theo tinh thần của 2 điều luật này thì giao dịch dân sự giữa họ với Cọ, Thành là giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối. Hậu quả pháp lý là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu va hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.
Nguyễn Thanh -Tuần Du lịch – 1999