Truyện dài kỳ “Năm canh” – Phần 2

Rồi khách sạn lại nhốn nháo đón nhận một tin mới, một ông Giám đốc khác vừa được điều động về, chẳng biết ông ta ra sao. Nguồn tin là ông Giám đốc mới về là một Sĩ quan Quân đội, mà Quân đội thì đồng nghĩa với kỷ luật, nhiều người ngán ngẩm. Cô Kim buông ngay một câu làm giật nảy mọi người:
-Ối dào, tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa, Sĩ quan Quân đội hả, đây đâu phải trại lính.
-Trại lính là sao? – Lê, một nhân viên phục vụ bàn hỏi đầy vẻ tò mò.
-Là sáng chào cờ, tới giờ răm rắp, tối điểm danh, là cắm trại, là….
-Vậy là không được về nhà ?
Cô Kim có vẻ thành thạo, đang nói đàng Đông, bỗng đổi giọng sang đàng Tây:
-Ờ, để rồi coi. Ối ! Cha nào rồi cũng vậy.
-Vậy là sao ?
-Là mê gái, mê tiền. – Nói rồi, cô Kim còn làm bộ bằng bàn tay mới hay làm sao.
Cô ta lấy ngón trỏ ra, cong lại làm cái móc câu, rồi vừa trề môi, hai má cô ta chỗ đáng ra có lúm đồng tiền, lại lồi ra mấy cục trông vừa dữ tợn, vừa đanh đá. Cô Kim là người nổi tiếng chẳng sợ ai, cô vừa có cái giọng lưỡi kiểu anh chị, vừa có cái đầu, dường như là một sự trải đời tinh ranh nhưng xơ cứng. Dáng vẻ lanh lợi, pha đôi chút khôn vặt, cô nói liền một hơi:
-Cha nào cũng vậy, mới về thì có vẻ đạo mạo, ra vẻ là ông quan thanh liêm, nhưng được ba bảy, hai mươi mốt ngày…Các cậu có biết cái gì đây không?
Cô Kim vừa nói vừa giơ cái ngón tay như “cái móc câu” ra, như nhứ trước mặt các cô khác. Vài cô đã hiểu ý mỉm cười nhưng đa số chẳng hiểu gì, họ trợn mắt ra mà nhìn. Thích thú với ngón đòn cao tay, cô ta cười sằng sặc, cục thịt ngầm ở bên trong, lúc thì ở bên này lúc thì ở bên kia, chẳng biết cục thịt ấy có tài biến hóa ra sao mà thay đổi vị trí tùy theo trạng thái của câu chuyện. Cô ta nói:
-Đây là cái lưỡi câu, ông nào cũng phải cắn cái lưỡi câu này, đã cắn rồi, tha hồ mà giật, giật mạnh giật nhẹ là theo ý của tao.
Nói rồi cô ta cười ngặt ngẽo, điệu cười vừa đểu cáng vừa thách thức.
-Các cậu có thấy mấy ông bà trước đây không ? Ông Giám đốc vừa chết hụt cũng vậy, bao giờ cũng phải nhờ vào tay con này, hồi còn chưa bệnh sáng là phở, cà phê sữa, trưa cơm bưng nước rót, ăn riêng một chỗ, tối nhậu, đều do một tay tao; mà tao có phải tốn đồng nào đâu, của nhà nước đút cho ông ăn rồi tính là của tao, tao cho, thế là ớn tao, tao sai gì làm nấy, đố dám cãi.
-Bất ngờ Lệ nói xen vào:
-Tôi thấy hình như giậu mới xiên mà bìm bìm đã leo rồi hay sao ấy.
Cô Kim trợn mắt, những cục thịt ở hai bên má lại nổi lên:
-Mày biết gì mà tham gia, ai tao cũng nói, như bà Hồng dại trai, có chồng rồi, đường đường là một đảng viên mà còn cặp bồ, chút nữa thì bị đánh ghen.
Lệ cũng không vừa:
-Thì bà cũng vậy, bà cũng bồ bịch tùm lum, còn mở miệng..
Quả thật, khách sạn Dòng Sông Xanh đã bắt đầu phân ra, ba phe bốn phía bênh vực nhau, đả kích đối thủ rồi nhè vào hàng các đại ca, sư phụ mà xỉa xói. Tình trạng xuống cấp của một khách sạn, cũng đồng nghĩa với sự xuống cấp về nhân cách và lòng thương yêu lẫn nhau. Khách sạn đang như con thuyền bị thủng sắp chìm mà mọi người trên thuyền mải lo cãi nhau, không ai tát nước vậy.
(Còn nữa)
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Truyện dài kỳ “Năm canh” – Phần 1

LTS: Du lịch Việt Nam đang rất khó khăn, cung vượt cầu rất xa, nó đang là mối quan tâm của lãnh đạo và tất cả cán bộ, công nhân viên trong Ngành. Nhưng vào đầu những năm 1990, liên doanh với nước ngoài như một “thời trang”, tưng bừng, ít có ai dám cưỡng lại.
Người đã từng chứng kiến và nhập cuộc trong thời điểm “huy hoàng” đó, nhà văn Lê Thành Chơn, Giám đốc khách sạn Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên là Trung tá, Sĩ quan Không quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam, bằng ngòi bút, ông đã dựng lại một phần bối cảnh của Ngành, đi sâu làm sáng tỏ những vấn đề đang gây nhức nhối và lo lắng trong cán bộ, nhân viên du lịch.
Với vốn sống phong phú, hiểu rõ các góc khuất của cuộc sống đa dạng, ông đã cho ra đời tiểu thuyết “Năm canh”, ghi lại cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa cuộc sống chân thực và giả dối, giữa dám nghĩ dám làm và tư tưởng ỷ lại.
Tiếp theo tiểu thuyết “Người đẹp trong khách sạn” (Nhà xuất bản Thanh Niên – 1990) của nhà văn Hoàng Minh Tường, đây là cuốn tiểu thuyết thứ 2 viết về ngành Du lịch. Tuần Du Lịch xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Kỳ I: “Dòng Sông Xanh” ngập bùn
“Cảm ơn nỗi đau khổ tận cùng đã cho em nhìn thấy được anh. Trí tuệ, tình yêu nồng cháy của anh đã làm trái tim em ấm dậy”.
….Cuộc sống, em tôi ơi đừng tuyệt vọng….trái ngọt đầu mùa mật ngọt sẽ đầy môi….
Thành cắn môi tưởng có thể đứt vành môi vốn rộng và dày của anh. Trong đầu anh, những con số nhảy nhót như khiêu vũ, kết quả kinh doanh nhảy vọt, mỗi năm một tăng và căn nhà này đã thay da đổi thịt tới ba lần rồi, bây giờ khó khăn mới lại đến, khách giảm, doanh thu giảm, phòng trống ngày một nhiều. Cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường chẳng khác gì trên chiến trường năm xưa. Thành mệt mỏi lê bước vào căn phòng anh đã ở đầu tiên khi mới đến khách sạn, anh ngồi xuống chiếc salon cao cấp…..Thành nhìn khắp căn phòng, nó đã lột xác, nhưng vóc dáng của nó vẫn còn, mỗi khi có khó khăn anh thường bước vào căn phòng này….
“Cảm ơn nỗi đau khổ tận cùng….cuộc sống….đừng tuyệt vọng….trái ngọt đầu mùa mật ngọt sẽ đầy môi….”
Vần thơ tự do như một định mệnh đã theo anh, Thành lại cắn môi, thói quen đã có từ khi nào anh cũng không biết. Số phận đã đưa anh đến chốn này để dìm anh xuống tận đáy bùn đen. Anh cố đạp, chòi, để vượt lên số phận, căn phòng này ngày anh đến ở đầu tiên, cuộc đời anh trôi nổi cũng từ căn phòng này, nó là vật vô tri nhưng với anh nó là bạn. Bước vào phòng lần nào cũng vậy, anh thấy như có một sinh lực, có một sự sống ở đâu đây, mọi vật như bừng sáng đón chào anh và tâm sự cùng anh: “Ông anh buồn gì vậy?” “Tôi lo quá” “Lo gì?” “Kinh doanh đang xuống”. “Ông anh không nhớ…sao?” “Nhớ gì?” “Nhớ hồi xửa hồi xưa….”….Rồi vần thơ lại văng vẳng: “Cảm ơn nỗi đau khổ tận cùng…….”
Tháng 7 năm 1989, khách sạn Dòng Sông Xanh có một sự kiện quan trọng làm nhốn nháo mọi người, họ loan tin ông Giám đốc đã chết vì tai biến mạch máu não. Một số người vốn thân cận với ông vội vã chạy đến nhà để biết đích xác thực hư, số đông còn lại, cứ đi tới đi lui mà nói y như mình biết rõ ràng là ông đã chết, rằng tối qua, trong một buổi liên hoan do uống quá nhiều rượu, ông về đến nhà chưa kịp cởi giày đã lăn đùng ra chết, có người nói ông chết tại phòng massage,……thôi thì đủ thứ tin. Cùng một sự việc do ghét thương khác nhau mà có cách đồn đại khác nhau cũng là lẽ thường tình, có điều đích thực là không khí nhẹ nhõm, sau khi có tin chính xác là ông bị chảy máu não, liệt nửa người, vẫn sống. Dường như cái tin ấy làm dịu hẳn, bởi trong lòng mọi người, người thương thì cho là vẫn còn có hy vọng, người ghét thì cũng cảm thấy được an ủi vì không quá rủi đến với ông và chắc là ông không còn dịp nào để trù để bênh nữa, hoặc ít ra ông cũng có dịp nằm nghĩ lại việc mình đã làm, và chắc là không khí nhẹ nhõm này phải ít ra là một thời gian dài nữa mới phải lo đối phó với ông….
Lê Thành Chơn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Kẻ tiếp tay vô tội

Ngày 17/9, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tiến hành mở lại phiên tòa xét xử vụ án “Làng kiến trúc phong cảnh Võng thị, Hà Nội”. Hai bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển bị buộc tội vi phạm các qui định về quản lý và bảo vệ đất đai, bị truy tố theo khoản 1 điều 180 bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử gồm 3 người do thẩm phán Hoàng Tân Thanh làm chủ tọa phiên tòa. Ông Hoàng Nguyên Phú, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa. Bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Thủy tại tòa là luật sư Trần Ngọc Dũng cùng hai bào chữa viên nhân dân Trần Hùng, Trịnh lương. Luật sư Vũ Thiện Kim bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Trịnh Hồng Triển.
Tại phiên toà lần này, toà án đã triệu tập 9 nhân chứng, trong đó có các ông Phạm Sĩ Liêm – nguyên thứ trưởng bộ xây dựng, Trương Tùng – nguyên phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Nguyễn Trực Luyện – Chủ tịch hội kiến trúc sư Việt Nam, Vũ Huy Từ, Bùi Xuân Vinh – cán bộ văn phòng Chính phủ.
Sau hai ngày xét xử thẩm vấn bị cáo cũng như xét hỏi nhân chứng trước tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào các qui định của pháp luật và các chứng cứ của cơ quan điều tra cho thấy việc giao đất, sử dụng đất đã vi phạm luật đất đai 1988. Luật đất đai 1993 và các qui định của nhà nước về sử dụng, bảo vệ đất đai. Nguyễn Thị Thanh Thủy đã lợi dụng đề tài KC11-11 xin cấp đất cho một số cá nhân xây biệt thự làm nhà ở cho tư nhân, mua bán đất trái phép và sử dụng đất đai mục đích, mục tiêu của dự án, Trịnh Hồng Triển đã ký duyệt hồ sơ không có luận chứng kinh tế kỹ thuật, giúp sức cho Nguyễn Thị Thanh Thủy thực hiện kế hoạch chuẩn bị từ trước.
Mỗi bị cáo được chia một suất đất tại làng kiến trúc phong cảnh.
Những vi phạm của các bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội vi phạm các qui định về quản lý và bảo vệ đất đai được qui định tại điều 180 bộ luật hình sự.
Sau hai ngày xét xử sơ thẩm, Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt:
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: 20 tháng tù, cho hưởng án treo, 36 tháng thử thách; phạt tiền 40 triệu đồng.
Trịnh Hồng Triển: 15 tháng tù, cho hưởng án treo, 24 tháng thử thách; phạt tiền 30 triệu đồng.
Huỷ giấy phép sử dụng đất số 1671/UB ngày 20/8/1992 do ông Trương Tùng ký cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam sử dụng tại phường Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội.
Huỷ các quyết định giao đất của Trung tâm kiến trúc phong cảnh do bị cáo Thuỷ ký giao đất cho các hộ tham gia Làng kiến trúc phong cảnh Võng Thị.
Chuyển Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết vấn đề nhà ở, đất ở tại Làng kiến trúc phong cảnh theo qui định của pháp luật về đất đai và nhà ở.
Phiên tòa đã kết thúc, các bị cáo đã nhận hình phạt. Tuy nhiên sau khi kết thúc phiên tòa, dư luận cho rằng bị cáo Thủy, Triển đã bị tuyên án đúng tội danh, nhưng ông Trương Tùng – người ký giấy với thủ tục, quy định về cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, trái quy định tại điểm 3, điều 12, luật đất đai 1988, gián tiếp tiếp tay cho Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển làm trái pháp luật chỉ bị đề nghị cơ quan chủ quản xử lý về hành chính là chưa thỏa đáng.
Ông Vũ Huy Từ, Bùi Xuân Vinh thiếu trách nhiệm trong việc ra thông báo 708 ngày 19/11/1992 thông báo ý kiến của thủ tướng chính phủ cho phép trung tâm kiến trúc phong cảnh được đền bù thiệt hại đất nông nghiệp theo quy định số 1231/QĐ ngày 26/3/1986 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (vào thời điểm đó văn bản này đã hết hiệu lực pháp luật) gây thiệt hại cho nhà nước 1,5 tỷ đồng cũng chỉ bị xử lý hành chính là không công bằng. Hành vi này lẽ ra phải bị xử lý tại điều 220 bộ luật hình sự về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Trong phiên tòa này, một điều nữa đáng nói là ý thức của những người tham dự phiên tòa. Phần đông trong số đó là người nhà, bạn bè của các bị cáo. Họ là những người có học thức, tuy nhiên tại hai buổi xét xử, họ đã có những hành vi không đúng mực khiến chủ tọa phiên tòa phải nhiều lần cho dừng việc xét hỏi thẩm vấn để nhắc nhở. Họ vỗ tay hoan hô như đi dự hội nghị, nói chuyện riêng, chế giễu mỗi khi đại diện viện kiểm soát nói ngọng l và n.
Cũng tại tòa, bào chữa viên nhân dân Trịnh Lương – người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Thủy đã phát biểu những lời lẽ thiếu tôn trọng hội đồng xét xử cũng như các cơ quan thông tấn báo chí đưa tin bài về vụ án.
Vụ án xét xử sơ thẩm “Làng kiến trúc phong cảnh Võng Thi, Tây Hồ” đã kết thúc. Dư luận còn không ít những băn khoăn, đặc biệt đối với những người liên quan gián tiếp tay cho các bị cáo làm trái pháp luật: Họ vô tội, liệu pháp luật đã được công minh chưa.
Phạm Huy An – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Pháp “vua bếp ra tòa”

Cảnh sát Pháp đã bắt giữ 34 đầu bếp của nước này vì tội nhận hối lộ của các nhà cung cấp thực phẩm. Trong số những người bị bắt và chờ ngày xét xử có nhiều nhân vật khá nổi danh như Manuel Martinez, bếp trưởng của nhà hàng La Tour d’Argent; Christian Renard, bếp trưởng khách sạn Crillon; Marcel de Faoum, đầu bếp chính tại Bộ Ngoại giao Pháp…
Vụ bắt giữ này được tiến hành sau khi vợ chồng Patrick Rcrrin và Claudine Laravent, chủ một hãng cung cấp cá, bị bắt giữ vào ngày 28/6/1999 đã khai ra một số đầu bếp đã nhận hối lộ của họ để được phép cung cấp cá cho các nhà hàng.
Vợ chồng nhà buôn này cho biết họ đã hối lộ các đầu bếp số tiền tương đương với 10% giá trị cá nhập cho các nhà hàng, trong nhiều năm qua.
Đây quả là vụ hối lộ lớn và tội phạm không phải là các quan chức mà là các “vua bếp”. Hối lộ kiểu này không phải chỉ có ở Pháp mà nhiều nơi khác cũng có tình trạng tương tự.
Love Parade khổng lồ ở Berlin
-1 người thiệt mạng, 5.421 người bị ngất choáng
-Cảnh sát bắt giữ 100 tên móc túi
-Tạo ra bãi rác khổng lồ 200 tấn
Cả ngày 11 và suốt đêm 11, rạng sáng 12/7, tại quận Tiergarten ở Berlin đã diễn ra Love Parade lần thứ 11 với sự tham dự của khoảng 1,5 triệu người, chủ yếu là thanh niên Đức và thanh niên từ nhiều nước khác đến. Đây là sự kiện ca múa nhạc ngoài trời lớn nhất nước Đức gọi là “Techno-Event” được tổ chức hàng năm, bắt đầu từ năm 1998.
Love Parade – 1999 đã khiến cho 1 người thiệt mạng do bị đâm vào ngực và 5.421 người phải cấp cứu do bị thương và bị ngất choáng, cảnh sát bắt giữ hơn 100 tên móc túi, cướp của, gây gổ….
Love Parade đã tạo ra đống rác khổng lồ khoảng 200 tấn, chủ yếu là vỏ đồ hộp đựng nước giải khát và túi ni-lông. Thành phố Berlin đã phải huy động 900 nhân viên vệ sinh công cộng dọn rác suốt đêm 11 và rạng sáng ngày 12/7.
Ngay sau khi Love Parade lần thứ 11 kết thúc, ngày 12/7, Chủ tịch cơ quan hành chính quận Tiergarten ông Poroth đã lên tiếng đòi chuyển địa điểm tổ chức Love Parade đi nơi khác do tình trạng mất trật tự và tạo ra đống rác khổng lồ ở quận này. Tuy nhiên nhiều nhà kinh doanh vẫn muốn tổ chức Love Parade tại đây vì đây là một cơ hội thương mại và du lịch lớn.
Đội lốt khỉ để sống với khỉ
Khách đến vườn thú Atlanta (Mỹ) sẽ gặp ngay những ông già hưu trí vui với một nghề mới: làm khỉ gô-rin kỹ thuật. Những ai chơi vidéo game thì không lạ gì, nhưng ở đây là điều mới mẻ, những ông già trong lốt khỉ len lỏi giữa những con khỉ thật, sinh hoạt cùng với chúng. Đó là cách để hiểu đời sống hoang dã của khỉ gô-rin. Các nhà nghiên cứu hi vọng rằng, qua việc làm này sẽ có nhiều phát hiện mới, nhưng trước hết điều này đã gây cho trẻ em điều thú vị khi đi thăm vườn thú. Tới đây các nhà nghiên cứu sẽ cho người làm lốt voi, lốt gấu….
Có một shop lớn nhất thế giới
Shop West Edmonton Mali với 800 cửa hàng 110 tiệm ăn, 34 phòng chiếu phim, 2 phòng trà ca nhạc được xem là một shop lớn nhất thế giới cho đến thời điểm hiện nay, mới đây đã được khai trương tại Canada. Shop sẵn sàng đón nhận mọi đối tượng khách đến nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ hè. Tại đây khách có thể ngủ trong những căn phòng trang trí theo kiểu La Mã cổ hay kiểu vùng biển Polynésis; có thể say mê theo dõi những cuộc đua ngựa trong trường đua 40 nghìn m2 (đến nay được xem là một trong 8 trường đua lớn nhất thế giới); có thể tham quan vùng biển nhân tạo xây dựng ngầm dưới đất, thưởng thức hơn 200 loài thủy sản quý hiếm.
Hòa nhạc dưới đáy biển
Là một Festival âm nhạc được tổ chức dưới đáy biển tại bang Florida (Mỹ) mới đây. Có hơn 650 nghệ sĩ nghiệp dư tham dự, họ đã đóng vai những nàng tiên cá, những chàng long vương dạo chơi và trình diễn trong buổi dạ hội âm nhạc, trên một vùng san hô hữu tình. Một chương trình dài 6 tiếng đồng hồ đã được truyền trực tiếp trên sóng phát thanh truyền hình từ đáy biển.
Ngôi chùa được trang trí bằng vàng
Ngôi chùa Shwedagon ở Mi-an-ma này đang được dán thêm một tấn vàng nữa vào phần tháp hình mái vòm trung tâm của nó. Ngôi chùa 2500 năm tuổi này đang được trang hoàng với 2,3 tấn vàng và được khảm hơn 5000 viên kim cương và các loại đá quý khác.
Minh Tâm – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Vườn cò của dòng họ Phùng tồn tại gần 200 năm ở Ngọc Nhị – Hà Tây

Xuôi theo Quốc lộ 32 (Hà Nội đi Sơn Tây) chừng 60km, chúng tôi tới vườn cò Ngọc Nhị (thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Nép mình trong một làng quê yên ả, khu vườn đồi rộng 3,6 ha này là nơi trú ngụ và làm tổ của hàng nghìn con chim. Đón và dẫn chúng tôi đi thăm vườn là anh Phùng Đoài Học, ông chủ của khu vườn. Anh Học cho biết: khu đồi Đưng này của dòng họ Phùng nhà anh từ năm 1815 và đến anh là đời thứ sáu. Gần 200 năm trôi qua, khu đồi này đã là nơi chim về làm tổ, nhưng chỉ đến khi gia đình anh được giao trông nom khu vườn đồi này thì chim mới về nhiều, hình thành vườn chim như bây giờ. Giống như các vùng đất khác của miền Bắc, khí hậu chung của khu vực Ngọc Nhị mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, Ngọc Nhị chỉ là nơi các loài chim đến trú chân nghỉ đêm, từ tháng 4 đến tháng 9 mới là mùa sinh sản. Đây cũng là thời gian thích hợp cho du khách tới thăm quan vườn chim.
Ngôi nhà “Ngọc Nhị” có tới 49 loài chìm, nhiều nhất là 5 loài làm tổ tập đoàn vào mùa sinh sản là: cò trắng, cò ngang nhỏ, cò bợ, cò ruồi và vạc, đưa tổng số cá thể trong vườn lên tới 6.000 đến 7.000 con. Khách tới thăm quan còn bị thu hút bởi quần thể thực vật phong phú ở đây. Theo thống kê gần đây nhất, trong vườn có tới 178 loại thực vật, trong đó tre – loại cây được cò chuộng làm tổ nhất – chiếm khoảng 2/3 diện tích. Anh Phùng Đoài Học cho biết thêm: Để bảo vệ tốt vườn cò này, gia đình anh không bao giờ gây những tiếng động lớn làm cho chúng hoảng sợ. Anh và ba cậu con trai còn giúp chúng nguyên liệu làm tổ, đó là gom thành những đống lá tre, rác, cành màng tang để chim không phải bay đi xa kiếm nguyên liệu. Cùng với kinh nghiệm thực tế, anh còn nghiên cứu thêm các tài liệu về sinh học, học hỏi thêm ở các nhà nghiên cứu sinh học khi họ đến thăm vườn, để có kiến thức chăm sóc cho các loài chim. Mỗi năm anh trồng khoảng 300 gốc tre mới để cò làm tổ. Ngoài ra, gia đình anh cũng thường xuyên làm vệ sinh vườn, đào mương nước xung quanh tạo thêm nguồn thức ăn cho chim. Các con anh cũng rất yêu các loại chim và khá thành thạo trong việc cứu giúp chim non bị ngã từ trên tổ xuống mỗ khi bão gió. Tất cả những người đến thăm vườn, anh đều không lấy tiền. Thấy tôi ngạc nhiên, khi có rất đông người đến thăm quan mà cò vẫn bình thản làm tổ, anh Học vui vẻ cho biết thêm: “Tôi đã làm du lịch 7 năm rồi, tôi thấy: người du lịch đến đông không làm cò sợ, tất cả các cây vùng quanh nhà tôi ở đầu bếp, đầu bàn hoặc bàn ngồi ăn trưa, cò vẫn đang nằm ấp bình thường. Nếu như con người mà sống hòa bình với nó, không đánh đập nó, không bắn nó, không gây tiếng động mạnh đến nó thì hoàn toàn không sợ”. Không chỉ bảo vệ cò ở tại vườn của mình, anh Học còn vận động bà con xung quanh không bắt cò, không dùng thuốc sâu ở những ruộng lúa xung quanh đồi. Song đáng buồn là nhiều người vẫn ngang nhiên bắn hoặc bẫy cò, nhất là vào cuối mùa sinh sản, khi cò non mới tập bay. Chính vì thế, khi nói về mong muốn của mình, anh Học chỉ trầm ngâm: “Tôi mong tất cả mọi người, mọi nhà đều có trách nhiệm bảo vệ các loài chim. Tôi mong mọi người xung quanh đây bớt dùng thuốc trừ sâu”.
Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Hà Tây có khoảng 166 loài chim, khu rừng Hương Tích có 125 loài. Như vậy số loài chim ở Ngọc Nhị chiếm gần 1/3 số loài chim trong toàn tỉnh. Đây thực sự là một kho báu về đa dạng sinh học. Sự bảo tồn khu vườn Ngọc Nhị bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của gia đình anh, rất cần có sự giúp đỡ, ủng hộ của chính quyền địa phương và sự đầu tư của Nhà nước.
Chúng tôi chia tay với vườn cò khi nắng chiều đã nhạt. Từng tốp chim kéo nhau về. Những cánh còn trắng dập dờn trên thảm lúa xanh. Từng đàn lượn vài vòng theo hình xoáy trôn ốc rồi mới hạ xuống, khu vườn bỗng trở nên sống động với hàng trăm thứ âm thanh ríu ran. Trước cảnh tượng đó, Giáo sư Mai Đình Yên – khoa Sinh học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc Gia – Hà Nội) xúc động nói với chúng tôi: “Như chúng ta đã biết, nếu như một nơi nào đó còn có cò thì ý muốn nói địa phương đó, môi trường ở đó còn trong sạch. Vì vậy cho nên vườn cò có mặt ở đây, ý muốn nói là vùng chung quanh rất trong sạch. Vườn cò này còn tiềm ẩn những giá trị quý giá về mặt giá trị sinh học. Điều đáng quý ở đây là gia đình anh Học là một gia đình tư nhân mà tham gia vào việc bảo vệ môi trường, môi sinh. Nếu ai cũng tham gia bảo vệ môi trường như thế thì là điều đáng quý cho không chỉ ngày hôm nay mà cả mai sau”.
Cha ông ta thường nói: “Đất lành chim đâu”. Chúng ta không nên chỉ chờ đợi mọi thứ tự nhiên đến, mà phải tự tạo những vùng đất lành và gọi chim về. Đó là bài học mà tôi rút ra được từ chuyến thăm vườn cò Ngọc Nhị. Còn bạn, bạn sẽ nghĩ gì khi đến thăm Ngọc Nhị ?
Nguyễn Mai Hồng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Làng gốm cổ Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng chạy dọc theo sông Hồng cách Hà Nội 17km, nơi có thể đón khách du lịch bằng 2 tuyến đường, đường thủy và đường bộ. Làng Bát Tràng hôm nay chỉ có 2 thôn, thôn Giang Cao và thôn Bát Tràng, với 1.625 hộ, chủ yếu sống bằng nghề gốm. Theo anh Đặng Đình Túc, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng thì làng quê anh hình thành đã 500 năm, Bát Tràng có 4 nghệ nhân rất nổi tiếng như cụ Lê Văn Vấn, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Cổn, Lê Văn Cam. Nay 3 cụ đã khuất, làng chỉ còn có nghệ nhân Lê Văn Cam, và con trai ông là Lê Văn Thụ đang ra sức đầu tư cho việc phục chế gốm cổ từ thế kỷ XIII – thế kỷ XVII… Làng còn có nhiều người tài giỏi có tay nghề cao như hoạ sỹ Lê Quang Chiến (cháu gọi nghệ nhân Lê Văn Cam bằng bác), Tô Thành Sơn, Lê Xuân Phổ, Nguyễn Văn Lợi.
Hiện nay làng gốm Bát Tràng sản xuất ước tính 70 triệu sản phẩm/năm, giá trị doanh thu khoảng 170 tỷ đồng/năm. Mỗi tháng có nhà đóng từ 5 – 7 container hàng đi các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, Singapore, Nhật, Pháp chủ yếu là hàng bát, cốc, lẵng đựng hoa quả, và chậu hoa, tranh dân gian trên đĩa gốm… hoạ sỹ Lê Quang Chiến cho biết: “Chúng tôi thường làm theo đơn đặt hàng của khách nước ngoài hoặc khách du lịch. Ví dụ như khách Hàn Quốc thì chỉ thích các loại chậu hoa có nhiều kiểu dáng đẹp. Khách Pháp thích bát gốm men rạn, khách Hồng Kông thích đĩa gốm trắng trơn, sản phẩm gốm cao cấp hiện nay có lọ gốm giá hơn 100USD/bình, có cốc kèm đĩa với 3USD/c, lọ gốm men rạn, men Xêrađông (màu xanh) có cái 10 – 20 USD/c”.
Tháng 3/99, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đã xuống làm việc với làng Bát Tràng nhằm triển khai đề án phục hồi một làng nghề gốm cổ Hà Nội từ quý 4/99 – 9/2000. Đề án gồm các hạng mục: Xúc tiến trung tâm giao dịch gốm; một nhà bảo tàng về gốm cổ, về các chủng loại; xây dựng một kho bãi, có nhà giới thiệu sản phẩm về gốm, bảo tồn và gìn giữ xóm 1, xóm 2, với những ngôi nhà cổ nhất ở làng Bát Tràng.
Hiện nay ở Bát Tràng đã có 43 lò ga, lò có thể đốt từ 2 -13 khối sản phẩm. Một lò ga có sức chứa 2 khối sản phẩm giá 120 triệu đồng, cái lớn có sức chứa 13 mét khối giá tới hơn 400 triệu đồng. Ưu điểm của lò ga rất khoa học, sạch sẽ, nhưng giá thành sản phẩm cao hơn và người sử dụng lò ga đều phải đi học bổ túc để nâng cao nghiệp vụ lò. Tuy nhiên theo anh Lê Quang Chiến thì du khách nước ngoài chỉ thích xem chiếc lò gốm thủ công bằng gạch. Nó có vẻ đẹp riêng. Những con đường vào làng Bát Tràng đã trải nhựa nhưng xe công nông, xe trọng tải lớn vẫn vào làng làm hỏng đường. Vào mùa mưa, khách du lịch ngại đi. Trước mắt, theo anh Đặng Đình Túc, xã sẽ có các cuộc họp bàn với dân để ngăn chặn không cho xe tải lớn vào các con đường làng. Tạo cho làng có nhiều con đường sạch đẹp, và giúp cho các hộ người dân, xây dựng gia đình văn hoá mới, các cửa hàng gốm được trưng bày sản phẩm mới sao cho cách tiếp thị đẹp hơn, bắt mắt hơn để thu hút du khách. Tương lai của năm 2000 làng Bát Tràng sẽ có một cầu cảng ven sông Hồng, nơi cầu cảng này sẽ giới thiệu sản phẩm du lịch về gốm cổ và gốm hiện đại. Dự tính xây dựng cầu cảng bên sông Hồng, làng Bát Tràng khoảng 700 triệu đồng.
Cầu cảng này đã có trong dự án của Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm và Sở Du lịch Hà Nội, trình lên Uỷ ban nhân dân thành phố, và bến sông quê ở làng Bát Tràng vẫn đón khách từ tàu thuỷ sông Hồng lên mua sắm, tương lai không xa sẽ là một cầu cảng nổi tiếng, sầm uất của làng gốm cổ ven đô.
Hoàng Việt Hằng – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Tiến tới đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VI vào cuối năm 2000

Hiện nay phong trào thi đua yêu nước đã và đang được các ngành, các cấp tiếp tục phát động và nhân rộng trong toàn quốc, nhiều gương người tốt, việc tốt đã được phát hiện và biểu dương. Công tác thi đua – khen thưởng từ nay đến năm 2000 có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với các mục tiêu về kinh tế, xã hội, giữ vững trật tự an ninh chính trị nhằm tiến tới chuẩn bị kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước là:
70 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2000)
25 năm ngày thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2000)
110 năm ngày sinh chủ tịch Hồ chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2000
55 ngày thành lập nước (2/9/1945 – 2/9/2000)
Tiến tới Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 năm 2000.
Để đẩy mạnh công tác thi đua – khen thưởng trung ương đã hướng dẫn việc tổ chức phát động thi đua 1999 – 2000 với những nội dung chính như sau:
Về nội dung thi đua khen thưởng:
Trong 2 năm tới, cả nước phải dấy lên phong trào: Thi đua phát huy nội lực, phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, thực hiện tiết kiệm triệt để; tăng thu ngân sách, dồn sức và tiền vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng cuộc sống mới lành mạnh, văn minh, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng an ninh, quốc phòng vững mạnh. Xây dựng cuộc sống mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 2,3,4,5,6 và các Nghị quyết tiếp theo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.
Trước hết các địa phương, các Bộ, ngành đoàn thể trung ương cần hướng vào trọng tâm tổ chức tốt phong trào thi đua thực hiện xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế văn hóa – xã hội hàng năm của đơn vị, địa phương – của ngành và của cả nước. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở các khu vực dân cư. Phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng chống ma túy có hiệu quả.
Các địa phương các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương căn cứ vào mục đích, yêu cầu nội dung trên và đặc điểm của mình để tổ chức phát động các phong trào thi đua sau:
Thi đua thực hiên xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội trong kế hoạch hàng năm của từng đơn vị, địa phương, từng ngành.
Thi đua giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suốt, chất lượng hiệu quả cao trong công nhân viên chức và lao động.
Thi đua cải tiến lề lối, tác phong làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở.
Thi đua thực hành tiết kiệm chống tham ô lãnh phí, chống than nhũng, buôn lậu.
Thi đua xây dựng cuộc sống mới ở các khu vực dân cư. Phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là chống tệ nạn ma túy có hiệu quả.
Thi đua xây dựng và bảo vệ cảnh quan đô thị, làng, bản văn minh xanh sạch đẹp.
Thi đua dạy tốt, học tốt và đẩy mạnh cuộc vận động xã hội hóa giáo dục.
Thi đua hưởng ứng phong trào “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa và hướng thiện”.
Thi đua quyết thắng trong quân đội, phong trào thi đua vì an ninh tổ quốc và thi đua thực hiện tốt 6 điều Bác Hồ dạy đối với công an nhân dân.
Về công tác tổ chức thực hiện:
Trong 2 năm 1999 – 2000 tổ chức 4 đợt thi đua sau.
Đợt 1 từ đầu năm 1999 đến ngày 2.9.1999
Đợt 2 từ ngày 2.9 đến ngày 3.2.2000
Đợt 3 từ ngày 3.2.2000 đến ngày 2.9.2000
Đợt 4 từ ngày 2.9.2000 đến 31.12.2000
Đây là đợt thi đua lập thành tích đặc biệt xuất sắc chào mừng Đại hội Thi đua toàn quốc và chào đón thế kỷ 21.
Lê Đình Tuyến-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu – “Vạn sự khởi đầu nan”

Trung tâm Dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu, thuộc Công ty Du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) được thành lập theo quyết định số 240/QĐ/) OSC ngày 17/6/1999.
Trải qua hơn một tháng hoạt động Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu đã tổ chức được nhiều tour du lịch đi núi Bà Đen, thăm nơi ở Trung ương Cục Miền Nam (Tây Ninh), Đà Lạt (Lâm Đồng),…
Mặt khác, Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam cũng đã đón được 35 khách du lịch quốc tế đến Vũng Tàu. Hiện nay, Trung tâm đang làm thủ tục cho du khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
Đặc biệt, Trung tâm dịch vụ OSC Việt Nam đã tổ chức thành công một Tour du lịch cho 25 du khách dự hội nghị câu lạc bộ doanh nghiệp Việt Nam ra thăm Côn Đảo, mặc dù phải phối hợp với Công ty Bay Dịch vụ miền Nam, thuê bao một chuyến trực thăng để đưa du khách đi và về trọn gói. Đến Côn Đảo nhiều du khách đã tận mắt chứng kiến những nhà tù man rợ, giam giữ những chiến sĩ Cộng sản, trong đó có di tích lịch sử Cầu Tàu 914 (có 914 tù nhân đã hy sinh tại đây), thăm trại giam Phú Sơn, Phú Hải, Chuồng Bò, Chuồng Cọp… viếng nghĩa trang Hàng Dương, viếng mộ anh hùng Liệt sĩ Võ Thị Sáu, Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh. Ngoài ra, du khách còn được tham quan nhà Chúa Đảo, thăm miếu bà Phi Yến và di tích lịch sử Cầu Ma Thiên Lãnh. Vì những tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đưa các chiến sĩ cộng sản ra Côn Đảo để giam giữ và tra tấn, kết thúc chuyến du lịch mỗi du khách được tặng một huy hiệu Côn Đảo.
Tuy còn nhiều khó khăn, song bước đầu trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam tại Vũng Tàu đã có bước “vạn sự khởi đầu” thuận lợi.
An Giang: Thành lập đoàn khảo sát, kiểm tra môi trường và các khu du lịch trên địa bàn tỉnh
Chương trình phát triển du lịch là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của An Giang, từ nay đến năm 2000. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn còn đang là mối đe dọa nghiêm trọng cho ngành du lịch địa phương hiện nay.
Để khắc phục tình trạng này, vừa qua UBND tỉnh An Giang đã chỉ đạo cho Sở KH-CN & MT lập kế hoạch phối hợp cùng các Sở VHTT, Sở TM & Du lịch, Sở Y tế cùng tiến hành thành lập đoàn kiểm tra, khảo sát điều kiện vệ sinh môi trường tại các điểm, khu du lịch trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt là các khu du lịch có lượng du khách lớn hàng năm như: Khu du lịch Núi Sam (Châu Đốc), Khu du lịch Lâm Viên (Núi Cẩm), Khu du lịch Tức Dụp (Huyện Tri Tôn)… Du kiến kế hoạch khảo sát sẽ bắt đầu tiến hành từ 16/8 đến 25/8/1999.
Nhiêu Huyền-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Hà Nội khẩn trương tôn tạo khu thái học

Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta được lập từ năm 1076, sau Văn Miếu 6 năm. Trải qua bao biến cố lịch sử,, Quốc Tử Giám luôn được bổ sung, phát triển hoặc thay đổi theo đặc điểm của từng giai đoạn. Vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) , Quốc Tử Giám được đặt tên mới là Nhà Thái học. Năm 1946, Khu Thái học bị phá huỷ và trở nên hoang phế đến ngày nay.
Đối với quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám thì Khu Thái học là một thành phần di tích quan trọng. Đây là nhân tố chính mang những giá trị lịch sử vô cùng to lớn về nền giáo dục của dân tộc. Bất cứ sự thiếu khuyết nào về hình ảnh, tư liệu cũng như chứng tích của Khu Thái học đều sẽ làm giảm đi chân giá trị lịch sử của tổng thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, và nơi đây chỉ đơn thuần là ngôi đền thờ Khổng Tử mà thôi… Vì vậy, việc tôn tạo, bảo tồn di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám không thể tách rời nhiệm vụ tái hiện thoả đáng Khu Thái học. Chính vì ý nghĩa lịch sử to lớn ấy, Khu Thái Học đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội chọn là một trong những công trình tôn tạo trọng điểm hướng tới kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Đây cũng là công trình được khởi công đầu tiên vào ngày 13/7/1999 sau khi có giấy phép xây dựng 4 ngày.
Với thực trạng hoang phế hiện nay, Khu Thái học không để lại một tấm ảnh hay những tư liệu chính xác làm cơ sở cho việc chọn phương án tôn tạo và thiết kế công trình. Đây là một khó khăn trở ngại rất lớn cho việc xác định phương án thực hiện.
Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham kiến của các nhà sử học, kiến trúc, bảo tồn… một phương án tôn tạo tối ưu đã được thống nhất trên nguyên tắc tôn trọng lịch sử và phù hợp với hiện trạng. Trước hết phải ăn nhập với các thành phần, các không gian kiến trúc còn tồn tại trong khu Thái học như. Thái Học Môn cùng 2 cổng phụ nối với khu Đại Thành, Văn Miếu; Đông Môn mở ra phố Văn Miếu, miếu thờ Mẫu và một số cây xanh cổ thụ; Đảm bảo sự hoà nhập về kiến trúc, phong cách bố cục… với toàn bộ khu vực hiện có; Đảm bảo sự bền vững lâu dài và mang dấu ấn của văn hoá, kiến trúc và kỹ thuật thời nay.
Căn cứ theo các tài liệu còn lưu giữ được, với ý nghĩa lịch sử của di tích, chức năng của công trình đã được xác định là để lưu giữ, trưng bày và giới thiệu các tư liệu về lịch sử, ý nghĩa, giá trị của Quốc Tử Giám, về các tấm bia tiến sỹ, chế độ học hành thi cử thời phong kiến cũng như tinh hoa của quá trình phát triển văn hoá giáo dục của nước ta, nhằm tôn vinh nền văn hoá, giáo dục dân tộc, phục vụ công tác khảo cứu khoa học lịch sử…Dành một phần không gian thích hợp cho việc lưu danh, thờ tự các danh nhân văn hoá dân tộc mà trước hết là Chu Văn An (hiện đang được thờ ở văn miếu). Đây cũng sẽ là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá khoa học, hội thảo khoa học, kỷ niệm danh nhân, phong học hàm, phát bằng học vị…cùng với các hoạt động văn hoá truyền thống đậm nét dân tộc, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch trong nước và quốc tế.
Sau 2 tháng thi công, những khó khăn bước đầu đã được khắc phục. Theo ông Nguyễn Đức Hoà, giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội cho biết: 2 tháng qua các đơn vị tham gia thi công đã đạt được tiến độ đề ra. Hơn 800 mét khối gỗ lim là loại vật liệu chính đã được chuyển từ miền trung ra và tập kết tại nơi thi công an toàn.
Được biết khó khăn nhất trong quá trình thi công hiện nay là phần kỹ thuật mộc. Theo phương án, hầu hết phần nổi của công trình đều bằng gỗ. Có những hệ thống cột dài tới 12 mét, đường kính 0,56 mét. Toàn bộ kết cấu được gia công lắp ghép theo mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên đòi hỏi độ chính xác cao. Sau khi nghiệm thu kiểm tra, sẽ được hoàn chỉnh và ngâm tẩm chống mối mọt, trước khi lắp dựng với yêu cầu đòi hỏi kỹ thuật cao. Công việc này đã được giao cho các tay thợ lành nghề, các nghệ nhân có nhiều năm kinh nghiệm phục chế, bảo tồn của Bộ Văn hoá – Thông tin và Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội. Do có chức năng chính là trưng bày, thể hiện giá trị lịch sử của di tích nên việc bố trí sắp xếp hiện vật, bố cục nội thất, không gian trưng bày cũng đang là nơi bài toán hóc búa. Vấn đề này có thể sẽ được giải quyết bằng một hội thảo chuyên đề nhằm lấy ý kiến của các nhà khoa học, tìm ra phương án phù hợp.
Các bước thi công tại công trình tôn tạo khu Thái học đang được tiến hành khẩn trương để có thể hoàn thành đúng tiến bộ vào tháng 9 năm 2000. Đây cũng là trọng điểm sẽ tổ chức những hoạt động văn hoá, lễ hội độc đáo của lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội vào tháng 10 năm 2000.
Hoàng Ly – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Văn Sơn – “Thủ đô” Tam Thất

Năm 1998, hội chợ Tam Thất lần đầu tiên trên thế giới được tổ chức tại thành phố Văn Sơn, châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Đây là vùng trồng tam thất đặc hữu, được mệnh danh là “thủ đô” tam thất.
Thật khó mà tưởng tượng, giữa vùng núi non trùng điệp của tỉnh Vân Nam, nơi đây có dãy Thập vạn đại sơn, lại hiện hữu một thành phố sầm uất và thơ mộng như Văn Sơn. Toàn thành phố được nằm giữa một thung lũng lòng chảo rộng chừng vài trăm héc ta. Phía rìa đông thành phố là một dải núi đất cao dần. Trên một đỉnh bằng phẳng, người ta vừa xây một ngọn tháp tên gọi tháp Văn Bút, cao 8 tầng tượng trưng cho 8 huyện của châu Văn Sơn. Theo đường ô tô trải nhựa vòng lên tháp, du khách có thể nhìn toàn cảnh thành phố Văn Sơn, nhìn suốt sang dãy núi Tây Hoa, có công viên Tây Hoa nổi tiếng. Ở đó, trên gần chót đỉnh núi, nơi có một vòm hang rộng, từ vài chục năm trước người ta đã xây dựng một ngôi chùa gọi là chùa Tây Hoa. Một công viên hẹp được xây dựng dưới chân núi, men theo dãy núi đá là một đường bậc thang nhiều đoạn dốc đứng ép hẳn vào vách núi. Lên lưng chừng núi, chia làm hai nhánh theo hai phía. Có đoạn phải làm cầu thang sắt, lan can sắt hàn giằng chéo nhau; có đoạn luồn qua một vòm hang hun hút. Du khách leo núi phải là những người có sức khỏe và lòng dũng cảm. Lần theo hàng mấy trăm bậc thang, khách sẽ lên các vọng lâu được xây nhô hẳn ra các mỏm đá. Đứng trên các vọng lâu, có cảm giác như treo giữa tầng không. Lên cao nữa, trên độ cao vài trăm mét sẽ tới cửa chùa. Từ đây nhìn xuống dưới là thành phố Văn Sơn với những đường phố sầm uất, những khu nhà cao tầng, những nhà máy, xí nghiệp và nơi trũng nhất là dòng sông Bàn Long như một khe nứt chảy quanh co trong thành phố. Đây chính là ngọn nguồn sông Lô, chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Thanh Thủy, Hà Giang, đổ vào sông Hồng ở ngã ba Việt Trì, rồi đi ra biển.
Với hai công trình văn hóa (Tháp Văn Bút và công viên Tây Hoa) nằm trên điểm cao ở hai chiều Đông – Tây thành phố, Văn Sơn luôn luôn được du khách chiêm ngưỡng từ trên cao, tựa như du khách đang nhìn ngắm thành phố từ trên máy bay trực thăng.
Một địa chỉ thứ ba, rất nổi tiếng, khiến bất cứ du khách nào tới Văn Sơn cũng phải ghé thăm, đó là chợ Tam Thất. Chợ nằm ở phía Nam thành phố nếu du khách đi từ khu trung tâm theo đại lộ Đông Phong, qua sông Bàn Long đi xuống. Đó là một trung tâm thương mại – văn hóa cổ kính, với cổng vòm chợ cao vút, hai bên cánh gà đắp nổi hai cây tam thất đầy tính tượng trưng và cách điệu. Vừa vào cổng chợ, du khách đã thấy hàng chục dãy sạp xây bê tông chạy dài suốt chợ. San sát các sạp tam thất đủ loại: Tam thất củ nâu bóng như sừng, tam thất rế thoạt trông tưởng sợi thuốc lá, cũng vàng hanh, nhỏ đều, rồi tam thất hoa, hay trà tam thất màu xanh bạc…cả cây tam thất, từ rễ, cây, hoa, củ hầu như đều có giá trị dược hiệu quý. Tất cả đều được phơi khô, tỏa hương thơm ngọt rất đặc biệt. Những chủ sạp tam thất thường là người cư trú tại thành phố. Nhưng chủ nhân đích thực của tam thất lại là những người Choang, người Dao váy áo đầy màu sắc từ tít trên những dãy núi xa kia. Lẫn với đặc sản tam thất là những dãy hàng rau, hàng hoa quả, nhiều nhất là mận. Những chàng trai dân tộc gùi những sọt to, nặng đầy mận đỏ, mận xanh to mọng quyến rũ.
Du khách Việt nam sang Văn Sơn theo đường cửa khẩu Thanh Thủy Hà Giang, qua biên giới chừng 60km sẽ đến thị trấn Manipho, qua Manipho chừng 20km nữa, trên độ cao 2000 mét so với mặt biển 4 mùa mát lạnh sẽ gặp những vạt nương màu xám nâu vuông vức được che kín bằng loại cây họ guột, đó chính là các vườn tam thất. Loại cây này chỉ phát triển và cho củ khi chúng được che kín, quanh năm không có tia nắng mặt trời. Người ta trồng tham thất xong, phải rào kín rồi làm giàn che, cao chừng hơn 1 mét. Trong điều kiện cớm nắng, cớm gió và không bị sương muối, giá rét ấy, cây tam thất sinh trưởng chừng 3 năm mới cho loại củ có giá trị. Loại cây thần dược này, giống như sâm Cao Ly, thường được người Trung Quốc coi như thuốc đại bổ, rất hợp với phụ nữ và người già.
Có lẽ vì sống giữa “thủ đô” tam thất mà những người phụ nữ ở châu Văn Sơn đã thừa hưởng được những “di sản” của Từ Hi Thái Hậu thuở xưa, lúc nào cũng hừng hực niềm đam mê và sức sống.
Tư Mã Quang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999